Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

9 câu hỏi không thể bỏ qua về cúm gia cầm A/H7N9

Hiện nay, dịch cúm gia cầm H7N9 đang xảy ra ở Trung Quốc, rất gần với Việt Nam. Những giải đáp sau sẽ giúp bạn sáng tỏ về bệnh cúm A/H7N9 cũng như cách phòng ngừa.

1. Nguyên nhân của bệnh cúm và cúm gia cầm?

Do siêu vi trùng (Virus) cúm gây ra – Virus cúm gây bệnh trên người được chia 3 nhóm (A,B,C) trong đó nhóm A là phổ biến và một số trong nhóm này có thể phát thành dịch bệnh.

Virus cúm có cấu trúc hình khối cầu, trên bề mặt có nhiều thụ thể kháng nguyên, trong đó có 2 thụ thể kháng nguyên (glycoprotein) đáng chú ý là Haemaglutinin (H) và Neuraminidase/

Hiện có phân nhóm 16 H và 9 N, các tiểu nhóm này có thể thay đổi cấu trúc do vậy có những khó khăn nhất định trong việc tìm kiếm vaccine phòng và điều trị bệnh.

Một số loại cúm có liên quan đến gia cầm mà thường nghe thấy là:

H5N1 – Bird Flu (gà) 2004

H1N1 – Swine Flu (heo) 2009

H7N9 – Cúm gia cầm – từ 2013

2. Bệnh cúm gia cầm A/H7N9 có phải là loại vi rus (siêu vi trùng) mới?

Mặc dù nhóm vi rus cúm nhóm A, H7 (ví dụ H7N2, H7N3 và H7N7) thỉnh thoảng có gây nhiễm trên người, H7N9 trước đây chỉ thấy gây bệnh trên chim ở Hà lan, Nhật và Mỹ.

Nhưng bắt đầu từ 3/2013 tại Trung Quốc, trường hợp đầu tiên A/H7N9 gây bệnh trên người được báo cáo. Tính đên 16/1/2017: 918 mắc bệnh và 359 tử vong

Từ 2013-2015: Có 4 đợt dịch bệnh. Riêng cuối năm 10/2016- đầu năm 20/2/2017: đợt bùng phát thứ 5 của H7N9 với 424 người mắc bệnh

Tổng số từ đợt 1- đến 5: Thông tin gần đây nhất thì đã đó 1223 trường hợp xác định và khoảng 40% trường hợp tử vong (con số tăng lên)

Những điều cần biết về dịch cúm gia cầm A/H7N9

3. Biểu hiện của bệnh cúm gia cầm A/ H7N9

A. Trên gà, vịt, chim bồ câu … - Hầu như không có biểu hiện bệnh (ngoại trừ có những con vật bị chết không rõ nguyên ro và thử nghiệm tìm ra, còn nói chung đa số không có biểu hiện bệnh). Điểm này khác với cúm gà A/H5N1 – thì gia súc bị ảnh hưởng có thể từ nhẹ đến nặng rõ ràng.

B. trên người: Sốt, ho, khó thở, có thể viêm phổi, suy hô hấp cấp, nhiễm trùng máu và suy chức năng các bộ phận trong cơ thể.

5. Cách thức lan truyền của Cúm A/H7N9:

Người bị mắc bệnh thì hiếm (không dễ dàng). Thường là tiếp xúc gần với gia cầm bị bệnh (dù sống hay chết) hoặc tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm hay ghé thăm các chợ gia cầm sống.

Tạm thời coi như chưa có lan truyền Người qua Người: Tuy nhiên cũng phải nói có vài trường hợp được coi là có lan truyền người sang người. Còn nhìn chung, H7N9 ít có nguy cơ truyền bệnh từ người sang người. (mặc dù vậy, do đặc tính cấu trúc thay đổi, Y giới luôn cần cảnh giác và theo dõi chặc chẽ. Bởi vì nếu Virus lây từ người sang người thì sẽ tạo dịch và nguy hiểm đáng kể. So với H5N1 (cúm gà) trước đây, thì H7N9 được coi là có thể lan truyền Người-Người cao hơn; (nhắc lại hơn nữa là cúm H5N1 rõ ràng trên gia súc nên dễ phát hiện hơn)

6. Điều trị bệnh cúm A/H7N9

Điều trị hỗ trợ: giảm sốt, bù đủ nước điện giải, nghỉ ngơi. Ăn uống đầy đủ

Điều trị thuốc: Oseltamivir (Tamiflu), Zanamivir (Relenza), truyền tĩnh mạch Peramivir (Rapivab)– H7N9 giống như các cúm gà khác (avian flu), không đáp ứng với nhóm thuốc kháng siêu vi trùng nhóm Adamantane.

Tuy nhiên gần đây cũng có lo ngại là kháng thuốc của A/H7N9 với Oseltamivir hay Zanamivir.

Chú ý thống kê: cần uống sớm, và đúng đối tượng (Còn lại hiệu quả giữa lợi ích và tác hại của thuốc là không đáng kể nếu người bệnh không có những bệnh lý yếu miễn dịch, hay bệnh lý đặc biệt gây kém khả năng đề kháng).

7. Phòng bệnh cúm A/H7N91

- Rửa tay: Rửa tay liên quan chuẩn bị thức ăn; chế biến hay dọn dẹp chất thải động vật. Rửa tay khi chăm sóc người bệnh.

- Vệ sinh hô hấp cũng là điều cần chú ý. Bịt miệng khi ho, bằng tay hay khăn giấy. Rửa tay, vứt khăn giấy đã qua sử dụng vào thùng rác đậy kín

- Vệ sinh ăn uống: A/H7N9 không lây truyền qua thực phẩm được nấu chín vì virus cúm sẽ bị tiêu diệt trên 70 độ C, do đó có thể ăn thịt lợn hay thịt gia cầm đã được nấu chín hoàn toàn.

Không nên ăn thịt tái, tiết canh.

Tránh ăn thịt con vật bị bệnh hoặc đã chết vì bệnh.

Cẩn trọng với nguồn gia cầm không rõ nguồn gốc xuất xứ (như đã nói, gà vịt bị bệnh có thể không có biểu hiện nhưng vẫn có thể lây bệnh cho người. VN thì càng cẩn thận vì buôn lậu biên giới, thiếu kiểm soát, thiếu trung thực khai báo…)

- Chưa có vaccine dùng cho công chúng, nhưng đang có vài vaccine trong giai đoạn kiểm nghiệm. Mục đích chính là dự phòng nếu có dịch bùng phát trên người đủ mức sẽ có thể tiến hành tiêm phòng đại trà.

8. Ăn trứng của gà vịt bị bệnh có bị không?

Lời khuyên y tế: Trứng không mang mầm bệnh, tuy nhiên nên ăn trứng nấu chín kỹ, (không đánh kem sống hay ăn lòng đào)

9. Tiêm phòng cúm mùa đông hàng năm có phòng bệnh A/H7N9 không?

Trả lời không, vì thường tiêm cúm mùa đông từ 3-5 chủng, không có phòng cho chủng này.

Vậy tiêm cúng mùa đông phòng cho Cúm Swine flu (cúm heo không)?

Thông thường là có, vì các năm gần đây, thuốc chủng ngừa cúm thường có bao gồm đề kháng cho Swine flu.

Một vài câu hỏi thường gặp khác

Có nên hạn chế đi du lịch vì cúm H7N9 không?

Không, nói rộng ra là cả du lịch Trung Quốc cũng chưa bị khuyến cáo, mà chỉ là tránh vào các chợ gia súc sống hay tiếp xúc trực tiếp với các con gà vịt (nếu chẳng may chúng bị bệnh), đảm bảo vệ sinh an toàn (theo nguyên tắc phòng bệnh ở trên).

Nếu nói bệnh nhân có tỉ lệ tử vong là khoảng 40% là rất cao, vậy bệnh có đáng ngại không?

Mặc dù tỉ lệ tử vong cao, nhưng số người mắc và nguyên tắc lây truyền vẫn chưa bị coi là dịch. Và nhất là nguy cơ lây truyền Người-Người chỉ có một vài trường hợp trong hoàn cảnh rất đặc biệt (như chăm sóc gần gũi với người bệnh) mà thôi. Nhìn chung cộng đồng chú ý tin tức chứ chưa cần phải báo động khẩn.

Bs Phan Đình Hiệp

(Melbourne Australia)

Nổi mề đay mẩn ngứa

Những hiện tượng ban đầu chính là có những vùng da sẩn đỏ, ngứa và khó chịu. Mề đay là một phản ứng viêm của da, có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học chính là histamin. Tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm. Có nhiều yếu tố gây bệnh (bên trong, bên ngoài cơ thể, cơ địa) và trên một bệnh nhân, nhiều khi không chỉ có một mà gồm nhiều yếu tố cùng kết hợp.

Diễn biến bệnh

Cấp tính: xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc.

Mề đay mãn tính: kéo dài trên 6 tuần, đa số là tự phát (vô căn), trường hợp này phải dựa vào những nghiên cứu thật công phu, tỉ mỉ mới có thể tìm được nguyên nhân. Thuốc chống dị ứng chỉ giải quyết được triệu chứng tạm thời. Muốn điều trị hiệu quả thì cái chính là phải tìm cho ra nguyên nhân, đôi khi không mấy dễ dàng.

Các dạng mề đay

Mề đay thông thường: bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.

Phù mạch (còn gọi là phù Quincke): nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc...), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mề đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.

Da vẽ nổi: còn gọi là mề đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau, trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mề đay.

Ngoài ra mề đay còn có những dạng khác như: sẩn nhỏ, sẩn - mụn nước hay xuất huyết.

Mề đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như: sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.

Điều trị bệnh mề đay

- Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.

- Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng. Tránh các chất kích thích như: gia vị, rượu, trà, cà phê...

Trong cơn cấp:

- Ăn nhẹ, giảm muối.

- Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (1 phần giấm 2 phần nước) để thoa hay tắm.

- Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mề đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản. Một số trường hợp nổi mề đay do viêm mạch, mề đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường, không nên dùng để điều trị mề đay mạn tính tự phát.

Đối với mề đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

BS. TRẦN LAN ANH

Trị viêm phế quản có khó không?

Tôi có con nhỏ, cứ mùa đông - xuân là cháu hay bị viêm phế quản. Xin cho biết chữa trị có khó không?

Mai Văn Hà (Nam Định)

Muốn biết con bạn có bị viêm phế quản hay không, bạn cần đưa bé đi khám bác sĩ chuyên khoa hô hấp. Tuy nhiên, việc điều trị viêm phế quản xoay quanh hai vấn đề: liệu pháp kháng sinh và điều trị triệu chứng. Nhưng có tới hơn 90% viêm phế quản là do virut, do đó không nên sử dụng liệu pháp kháng sinh. Kháng sinh chỉ được sử dụng khi viêm tiểu phế quản do vi khuẩn, bội nhiễm với tình trạng sức khỏe xấu, sốt kéo dài, nghi ngờ ho gà... Do đó, vấn đề đặt ra là nên điều trị triệu chứng và chăm sóc bé như thế nào để mau hồi phục sức khỏe.

Biện pháp hạ sốt: Có hai loại thuốc hạ sốt quan trọng là paracetamol và ibuprofen. Cho trẻ dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao (trên 38,5 độ). Với những trẻ có bệnh lý tim, phổi, thần kinh... cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc hạ sốt. Lưu ý rằng hoạt chất này có rất nhiều trong các sản phẩm thuốc giảm đau hạ sốt, cảm cúm... do đó cần đọc kỹ trước khi cho trẻ uống thuốc nhằm tránh quá liều. Biện pháp lau mát hạ sốt không nên sử dụng thường xuyên. Bạn cũng không nên sử dụng miếng dán hạ sốt vì gần như không mang lại hiệu quả. Nếu con bạn chỉ bị sốt ở mức độ vừa phải (bé không tỏ ra mệt mỏi, quấy khóc) thì không nên sử dụng thuốc hạ sốt, bởi phản ứng sốt sẽ giúp bệnh nhanh khỏi hơn là cố tình hạ sốt bằng mọi giá.

Trị viêm phế quản có khó không?Cần đưa trẻ đi khám bệnh để có chỉ định dùng thuốc trị viêm phế quản. Ảnh: TM

Biện pháp giảm ho: Nếu bé dưới 2 tuổi thì không dùng thuốc giảm ho, bởi ho là một phản xạ có lợi để tống đờm, vi khuẩn ra ngoài và giúp bệnh mau khỏi hơn. Khi trẻ ho nhiều dẫn đến nôn ói, mất ngủ... bạn có thể áp dụng một số cách an toàn như massage gan bàn chân; uống mật ong pha loãng với nước ấm, giữ ấm cho trẻ. Thường trẻ chỉ ho nhiều trong tuần đầu tiên sau đó sẽ giảm dần và tự khỏi.

Biện pháp trị sổ mũi, nghẹt mũi: Không dùng các thuốc kháng histamin và các thuốc chống sung huyết mũi để làm thông khô mũi trẻ vì nguy cơ tác dụng phụ cao, đặc biệt với trẻ dưới 2 tuổi. Nên vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý. Không cần khí dung nước muối hoặc thuốc giãn phế quản nếu trẻ không có khò khè, hoặc khò khè nhưng không đáp ứng với thuốc giãn phế quản.

Thuốc làm loãng đờm: Trên thị trường có rất nhiều loại thuốc có tác dụng làm loãng đờm, giảm độ dính của đờm như acetylcystein, bromhexin, carbocystein... Tuy nhiên, hiệu quả của những thuốc này ở trẻ em khá hạn chế. Thuốc chỉ phát huy tác dụng khi trẻ được uống đủ nước. Nước có tác dụng làm loãng đờm rất tốt, vì vậy khuyến khích trẻ uống nhiều nước là biện một pháp điều trị hỗ trợ quan trọng.

Khí dung thuốc giãn phế quản: Khi trẻ có hiện tượng khò khè do co thắt phế quản có thể cho trẻ thuốc giãn phế quản dùng qua khí dung, tuy nhiên chỉ khí dung nếu tình trạng khò khè có cải thiện phần nào sau phun, do vậy cần thiết khí dung tại cơ sở y tế và bác sĩ sẽ đánh giá hiệu quả của thuốc. Không nên sử dụng các thuốc giãn phế quản đường uống vì hiệu quả thấp mà lại có tác dụng phụ như: run tay, hồi hộp, đánh trống ngực, đỏ mặt...

Thuốc kháng virut: Bác sĩ có thể cân nhắc cho bé sử dụng thuốc này nếu nghi ngờ tác nhân là virut cúm, thuốc kháng virut cúm nếu cho cần cho sớm trong 36 giờ đầu kể từ khi khởi phát triệu chứng.

BS. Trần Văn Công

Triệu chứng cần biết của ung thư tuyến tụy

Một tổ chức từ thiện cảnh báo rằng ung thư tuyến tụy đang ngày càng gia tăng và trong thập kỷ tới có thể vượt qua ung thư vú để trở thành loại ung thư chết người phổ biến thứ tư. Ung thư tuyến tụy thường khó được chẩn đoán sớm để ngăn ngừa lây lan vì các triệu chứng của bệnh rất mơ hồ. Các triệu chứng có thể xuất hiện và biến mất lúc đầu. Dưới đây là những triệu chứng phổ biến nhất.

Vàng da

Bất cứ ai có dấu hiệu của vàng da-vàng da và lòng trắng của mắt đều nên đi kiểm tra ngay lập tức. Những người bị vàng da có thể cũng cảm thấy ngứa, phân nhạt và nước tiểu sẫm màu.

Sắc tố vàng có thể hình thành do chất bilirubin. Nó cũng có thể do những tình trạng không phải ung thư như viêm gan và sỏi mật nhưng không được bỏ qua. Những người trên 40 tuổi bị tình trạng này càng cần đến bác sĩ kiểm tra ngay.

Đau bụng

Tuyến tụy là một tuyến lớn nằm sâu trong cơ thể và một triệu chứng phổ biến của ung thư tuyến tụy là đau vùng bụng, cơn đau có thể xuất hiện và biến mất hay lan ra sau lưng. Cơn đau thường tồi tệ hơn khi nằm hoặc khi ăn.

 ung thư tuyến tụy

Giảm cân không rõ lý do và mất cảm giác ngon miệng

Giảm cân đột ngột, không chủ ý có thể là dấu hiệu của bệnh nghiêm trọng như ung thư tuyến tụy, mặc dù tình trạng này cũng có thể xảy ra sau một sự kiện gây stress.

Tuyến tụy đóng vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa, ung thư có thể khiến nó không thể hấp thu thực phẩm đúng cách dẫn tới giảm cân.

Khó tiêu

Khó tiêu là một triệu chứng của bệnh ung thư tuyến tụy nhưng có nhiều nguyên nhân khác không liên quan đến căn bệnh này khiến cho các bác sĩ khó có thể chẩn đoán.

Thay đổi thói quen đi vệ sinh

Vì ung thư tuyến tụy gây ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, cơ thể không thể tiêu hóa chất béo trong thực phẩm. Điều này có thể hình thành phân lớn, xanh, có dầu với mùi hôi đặc biệt. Tình trạng tiêu chảy hoặc táo bón cũng có thể xảy ra.

Khó nuốt

Một số người bị ung thư tuyến tụy có thể bị khó nuốt và bị ho, khó thở hoặc cảm thấy như có thức ăn kẹt trong cổ họng.

Buồn nôn

Ung thư tuyến tụy có thể khiến bạn buồn nôn và cảm thấy mệt mỏi.

Mới được chẩn đoán bị tiểu đường

Tuyến tụy sản sinh hormon insulin, giúp kiểm soát hàm lượng đường huyết nhưng ung thư có thể làm gián đoạn quá trình này.

Tiểu đường xuất hiện khi hàm lượng đường huyết trở nên quá cao. Điều này có thể gây ra bởi thiếu insulin, vì vậy, những bệnh nhân trên 60 tuổi, bị giảm cân và gần đây được chẩn đoán bị tiểu đường cần được sàng lọc.

BS Thu Vân

(Theo Independent)

Trẻ bị vẹo cổ có mổ được không?

Ngày 1-3, lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa cho biết, Khoa Ngoại chấn thương, chỉnh hình và Bỏng của bệnh viện vừa phối hợp với đoàn bác sĩ tuyến trên tầm soát số trẻ em bị dị tật ở địa phương và vùng lân cận. Đồng thời tiến hành mổ thành công cho 5 ca. Trong đó có 2 ca vẹo cổ do co rút cơ ức đòn chủm.

Có gần 30 em được cha mẹ đưa đến khám đều có dị tật, bệnh lý và phần nhiều do bẩm sinh. Các bệnh lý thường gặp gồm vẹo cổ do co rút cơ ức đòn chủm, trật khớp háng, bại não, ngực lõm…

Trẻ bị vẹo cổ có mổ được không?

mổ vẹo cổ

Bác sĩ chuyên khoa II Phan Văn Tiếp khám cho bé Diệp Khả Hân, sinh 2013 và sau mổ

Trong số các bé được mổ lần này là bé Diệp Khả Hân, sinh 2013, ở Nha Trang. Mẹ của bé cho biết, càng lớn lên thấy bé càng bị nghiêng cổ sang một bên, đi khám mới biết bé bị chứng vẹo cổ. Bác sĩ chuyên khoa II, Phan Văn Tiếp (Chuyên gia về Chấn thương – Chỉnh hình nhi ở TP.HCM), người trực tiếp khám và trưởng kíp mổ cho bé chia sẻ: Những trường hợp trẻ bị chứng vẹo cổ kể trên, phụ huynh không nên lo lắng, chúng tôi đã mổ rất nhiều những ca như thế và đều thành công. Ca mổ chỉ diễn ra chưa đầy 30 phút, tuy nhiên phụ huynh phải hết sức lưu ý, khi bé có ý thức và kiểm soát được bản thân thì nên thực hiện mổ. Đồng thời người nhà phải kiên trì tình nguyện làm “Kỹ thuật viên” lâu dài giúp cho bé. Theo đó, phải thực hiện thật chuẩn các vật dụng y tế, kiên trì tập, phục hồi chức năng cho bé nhìn thẳng, không nghiêng cổ…ít nhất cũng phải từ 3 đến 5 năm. Thậm chí cho đến khi nào thành công mới thôi.

Cuối cùng, các bác sĩ khuyên các gia đình khi thấy trẻ bị dị tật, cần đưa đến cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và tư vấn kịp thời. Bởi vì có rất nhiều dạng dị tật khác nhau, có trường hợp cần mổ sớm, có trường hợp phải đợi để trẻ thực sự biết kiểm soát hành vì. Ngoài ra còn cần thêm các chỉ số khác như cân nặng, thể trạng…

Công Thi

82 ca mắc ho gà: Chỉ có vắc xin là cách phòng bệnh tốt nhất

Ho gà có tính lây truyền cao

Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, do thời tiết se lạnh, độ ẩm cao nên mùa xuân là mùa bùng phát mạnh các bệnh hô hấp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, trong đó có bệnh ho gà.

Đây là căn bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp, phổ biến ở trẻ nhỏ. Bệnh có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp qua đường hô hấp có các dịch tiết từ niêm mạc mũi họng bệnh nhân khi ho, hắt hơi. Bệnh có tính lây truyền rất cao, nếu chưa có miễn dịch sẽ dễ mắc bệnh, diễn biến nặng có thể dẫn đến tử vong.

bệnh ho gàTrẻ mắc ho gà điều trị tại BV Nhi Trung ương.

Dù là bệnh có vắc xin phòng nhưng hiện nay ho gà chưa được loại trừ nên hàng năm vẫn còn gặp những ca mắc bệnh rải rác tại một số địa phương trên cả nước. Từ đầu năm đến nay, nước ta đã ghi nhận 82 trường hợp mắc ho gà tại các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Thọ, Hà Nam… trong đó Hà Nội có ca mắc cao nhất với 21 trường hợp, có một ca tử vong. Bốn trường hợp tử vong khác tại Cao Bằng, Nam Định (2 ca), Nghệ An.

Theo ghi nhận, dù số mắc tăng cao hơn các tháng trong năm do khí hậu lạnh, ẩm kéo dài, nhưng không cao hơn so với cùng kỳ các năm trước. Vì vậy đây không phải là diễn biến bất thường. Trẻ mắc ho gà phần lớn là trẻ dưới 2 tháng tuổi, chưa có khả năng miễn dịch.

Riêng trong năm 2017, 80% số ca mắc là trẻ dưới 3 tháng tuổi và phần lớn rơi vào nhóm trẻ dưới 2 tháng tuổi chưa tiêm chủng phòng ngừa ho gà. Các trẻ mắc bệnh cũng không nhận được miễn dịch từ mẹ truyền cho con do mẹ chưa tiêm phòng dịch trước đó.

Xem thêm: SAU THỦY ĐẬU, XUẤT HIỆN NHIỀU TRẺ MẮC HO GÀ, BIẾN CHỨNG VIÊM PHỔI

Sẽ hướng dẫn việc tiêm phòng dịch ho gà cho phụ nữ mang thai

Để phòng bệnh trẻ em, theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi là trẻ phải được tiêm vắc xin đúng lịch, đủ liều: Cần tiêm mũi đầu tiên ngay khi trẻ được 2 tháng tuổi, mũi 2 lúc 3 tháng tuổi, mũi 3 lúc 4 tháng tuổi và tiêm nhắc lại lúc trẻ 18 tháng. Mũi nhắc lại lần 4 khi trẻ được 18 tháng rất quan trọng trong việc kéo dài miễn dịch sau này để truyền cho con.

Đối với phụ nữ mang thai, vắc xin ngừa ho gà dành cho người lớn được khuyến cáo tiêm cho lứa tuổi từ 6 - 64 tuổi và phụ nữ mang thai 20 tuần. Tuy nhiên, tốt nhất là tiêm ngừa trước khi mang thai. Trường hợp phụ nữ mang thai cần thực hiện việc tiêm phòng theo hướng dẫn của cơ quan y tế, đặc biệt đối với phụ nữ mang thai sống tại vùng dịch.

vắc xin ho gà

Tiêm vắc xin là cách tốt nhất phòng ngừa ho gà cho trẻ.

Hiện, Bộ Y tế đang giao cho Cục Quản lý Dược, Chương trình Tiêm chủng mở rộng xem xét để có hướng dẫn cụ thể về việc tiêm phòng dịch ho gà cho phụ nữ mang thai.

Để phòng chống bệnh ho gà, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân thực hiện đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà (vắc xin phối hợp phòng bệnh Bạch hầu, ho gà, uốn ván – DTP hoặc vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, virut viêm gan b và Haemophilus influenzae type b - Quinvaxem) đủ liều, đúng lịch.

Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng cho trẻ hàng ngày.

Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh ho gà trẻ phải nghỉ học, cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

Lịch tiêm chủng vắc xin DTP hoặc Quinvaxem:• Mũi thứ 1: tiêm khi trẻ 2 tháng tuổi• Mũi thứ 2: Sau mũi thứ nhất 1 tháng• Mũi thứ 3: Sau mũi thứ hai 1 tháng• Mũi thứ 4: khi trẻ 18 tháng tuổi.

D.Hải

Biện pháp giảm căng thẳng tâm lý

Căng thẳng tâm lý là tình trạng lo lắng quá mức, người bệnh không thể tự kiểm soát được tình trạng này. Kèm theo bệnh nhân có nhiều triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như đánh trống ngực, thở nhanh và nông, ra nhiều mồ hôi, đầy bụng, khô miệng, khó nuốt, đái dắt...

Có nhiều bệnh gây căng thẳng tâm lý được gọi chung là nhóm bệnh rối loạn lo âu.

Cơn hoảng sợ kịch phát

Rối loạn hoảng sợ được đặc trưng bởi các cơn hoảng sợ có tính chất kịch phát. Cơn hoảng sợ xuất hiện đột ngột, sợ hãi vô cùng mạnh mẽ. Bệnh nhân có cảm tưởng sắp chết, cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim, bị phát điên hoặc mất kiểm soát bản thân. Cơn hoảng sợ kịch phát thường hay tái phát, mỗi cơn kéo dài 5-20 phút, nhưng đôi khi có thể kéo dài tới 1 giờ.

Biện pháp giảm căng thẳng tâm lýTập thở - một biện pháp làm giảm căng thẳng tâm lý.

Khi xuất hiện cơn hoảng sợ cần khuyên bệnh nhân làm các bước sau đây:

Ngồi tại chỗ cho đến khi cơn hoảng sợ qua đi.

Tập trung vào việc chế ngự lo âu song không cần quan tâm đến các triệu chứng của cơ thể.

Nên tiến hành thở chậm, thư giãn, không thở quá sâu hay quá nhanh giúp tăng thông khí. Việc kiểm soát nhịp thở sẽ làm giảm các triệu chứng của cơ thể khi cơn hoảng sợ xuất hiện.

Người bệnh nên tự nhủ rằng đó chỉ là một cơn hoảng sợ, các cảm giác và ý nghĩ sợ hãi sẽ mau chóng qua đi. Chú ý vào thời gian đang trôi qua trên đồng hồ. Cảm giác của bệnh nhân có thể là lâu, nhưng thực ra chỉ kéo dài trong vài phút.

Xác định những nỗi lo đó bị khuếch đại và xuất hiện trong cơn hoảng sợ (ví dụ bệnh nhân cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim).

Cần trao đổi với bệnh nhân cách đương đầu với nỗi lo trong cơn hoảng sợ đó (ví dụ bệnh nhân tự nhủ tôi không bị nhồi máu cơ tim, đó chỉ là một cơn hoảng sợ và sẽ qua đi trong vài phút).

Các nhóm tự giúp đỡ lẫn nhau có thể giúp bệnh nhân chế ngự được cơn hoảng sợ và vượt qua được cơn sợ hãi của mình.

Lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa được đặc trưng bởi các lo âu mạn tính chiếm ưu thế và không có rối loạn hoảng sợ. Điểm nhấn mạnh của rối loạn này là tồn tại lo âu kéo dài ít nhất 6 tháng. Các triệu chứng lo âu bao gồm hai nhóm triệu chứng: Lo lắng quá mức. Các triệu chứng cơ thể như tăng trương lực cơ, mất khả năng thư giãn, mệt mỏi...

Trong trường hợp bệnh nhân bị lo âu lan tỏa cần khuyến khích bệnh nhân tập thư giãn hàng ngày để giảm các triệu chứng cơ thể do lo âu, căng thẳng gây ra. Khuyến khích bệnh nhân tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, tập thể thao và tham gia các hoạt động đã từng có ý nghĩa trợ giúp trong quá khứ. Xác định và đối phó với nỗi lo buồn đã được khuếch đại có thể làm giảm được các triệu chứng lo âu như: Xác định các mối lo âu đã bị khuếch đại hoặc có ý nghĩa bi quan (ví dụ con gái đi học về muộn 5 phút bệnh nhân đã lo sợ rằng cháu bị tai nạn). Thảo luận cách đối đầu với mối lo sợ đã bị cường điệu khi chúng xuất hiện (ví dụ khi bệnh nhân bắt đầu lo sợ cho con gái thì bệnh nhân có thể tự nhủ rằng “mình đang bắt đầu bị lo âu, con gái mình chỉ về muộn vài phút và sẽ về ngay thôi, mình sẽ không cần gọi điện đến trường kiểm tra trừ khi con mình về muộn hàng giờ”).

Các phương pháp giải quyết vấn đề có cấu trúc có thể giúp bệnh nhân giải quyết các vấn đề cuộc sống hiện tại hoặc giúp chế ngự stress, các yếu tố đã góp phần gây các triệu chứng lo âu:

Xác định các sự kiện gây ra hiện tượng lo âu quá mức (ví dụ một người phụ nữ trẻ có biểu hiện lo âu, căng thẳng, buồn nôn, mất ngủ. Các triệu chứng này bắt đầu sau khi con trai bị chẩn đoán là hen phế quản. Sự lo âu của bệnh nhân nặng lên khi con trai bị hen).

Cần trao đổi với bệnh nhân sẽ làm gì để chế ngự tình huống này. Xác định các việc đó và củng cố, phát huy tác dụng của chúng. Xác định một số hoạt động mà bệnh nhân có thể làm trong vài tuần tới như: gặp các y tá, bác sĩ học cách chăm sóc bệnh nhân bị hen phế quản. Thảo luận với cha mẹ của những đứa trẻ khác cũng bị hen phế quản. Viết ra kế hoạch để chế ngự cơn hen phế quản.

Tập thể dục điều độ cũng có hiệu quả làm giảm lo âu.

Ám ảnh sợ xã hội

Ám ảnh sợ xã hội là sợ các hoạt động mà bệnh nhân phải đối mặt với người khác. Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội thường tránh xa các tình huống mà trong đó đòi hỏi họ phải va chạm với những người khác hoặc phải đối diện với người khác.

Các ám ảnh sợ xã hội thường là: nói, ăn, viết ở nơi công cộng, sử dụng nhà vệ sinh công cộng, sợ những cuộc phỏng vấn. Hơn nữa, cái sợ phổ biến nhất ở bệnh nhân là sợ người khác tẩy chay hoặc chế nhạo.

Mỗi bệnh nhân có thể có một, một số hoặc nhiều tình huống sợ xã hội. Những tình huống sợ này được chia thành 1 trong 3 loại: sợ nơi công cộng, sợ một số tình huống xã hội nhất định và sợ toàn bộ các tình huống xã hội.

Trong trường hợp này cần khuyến khích bệnh nhân thực hành phương pháp thở để kiểm soát các triệu chứng cơ thể của sợ. Yêu cầu bệnh nhân làm một bảng liệt kê tất cả các tình huống xã hội đã làm cho họ sợ hãi và né tránh mặc dù người khác không như vậy. Thảo luận cách đấu tranh với các nỗi sợ hãi đã được cường điệu này (ví dụ bệnh nhân tự nhủ “tôi đang có cảm giác hơi sợ một chút vì phải sử dụng nhà vệ sinh công cộng, cảm giác này sẽ qua đi sau vài phút”).

Đặt ra kế hoạch và các bước tiến hành để giúp bệnh nhân có thể đương đầu và làm quen với các tình huống xã hội gây sợ: định ra bước đi đầu tiên với các tình huống xã hội gây sợ (ví dụ tập gặp mặt những người không quen biết cùng một thành viên gia đình). Bước đi ban đầu này cần được thực hành một giờ mỗi ngày cho đến khi bệnh nhân không còn sợ hãi nữa.

Nếu tình trạng gây sợ vẫn còn, bệnh nhân cần tiến hành thở một cách chậm rãi và thư giãn, tự nhủ rằng sợ hãi sẽ qua đi trong vòng 30 phút. Bệnh nhân không nên rời khỏi tình huống gây sợ cho đến khi sự sợ hãi lắng dịu đi.

Tiến thêm một bước khó khăn hơn một chút và lặp lại điều đó (ví dụ ăn trong nhà ăn công cộng, nói chuyện trước đám đông người).

Không uống rượu và thuốc chống lo âu 4 giờ trước khi thực hiện bước này.

Xác định một người bạn hay thành viên trong gia đình giúp bệnh nhân vượt qua sợ hãi.

Bệnh nhân tránh lạm dụng rượu và thuốc bình thần.

PGS.TS. Bùi Quang Huy

Những liệu pháp trị đau họng tại nhà

Khi chúng ta bị đau họng, chúng ta có thể có cảm giác ngứa ở họng, khó nuốt, đau hoặc sưng các tuyến ở vùng cổ hoặc hàm. Đôi khi kèm theo cá...