Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

5 lời khuyên giúp bạn sống lâu, sống khỏe

“Tiêm chủng đúng lịch, sàng lọc một số dạng ung thư (ví dụ sàng lọc ung thư đại-trực tràng, phụ nữ sàng lọc cả ung thư vú và ung thư cổ tử cung), làm xét nghiệm máu sàng lọc các bệnh như tiểu đường và HIV”, tiến sĩ Paul Erwin, trưởng khoa sức khỏe cộng đồng thuộc Đại học Tennessee (Mỹ) cho biết.

5 lời khuyên giúp bạn sống lâu, sống khỏe

Tập thể dục thường xuyên cũng rất quan trọng. “Các khuyến nghị hiện tại kêu gọi tập thể dục 150 phút/tuần với cường độ vừa phải hoặc 75 phút/tuần với các bài tập gắng sức (hoặc kết hợp tập luyện vừa phải với tập luyện gắng sức). Nếu bạn không thể chạy bộ, bơi lội hoặc tập yoga, hãy cắt cỏ bằng máy cắt cỏ tự đẩy thay vì xe cắt cỏ có người lái. Đỗ xe ở nơi xa hơn thay vì luôn tìm chỗ đỗ sát nhà. Leo cầu thang bộ thay vì dùng thang máy”, tiến sĩ Erwin nói.

Không hút thuốc lá, một trong những nguyên nhân gây tử vong và tử vong sớm có thể phòng ngừa được. Nếu hiện bạn vẫn hút thuốc lá, hãy tìm cách bỏ thuốc, tiến sĩ Erwin nhấn mạnh.

Dinh dưỡng hợp lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và tăng tuổi thọ. “Những gì chúng ta ăn quan trọng hơn nhiều so với việc chúng ta ăn bao nhiêu. Hãy quan tâm tới thực phẩm bạn ăn”.

Cuối cùng tiến sĩ Erwin khuyên nên thực hành và duy trì sự hài hòa và cân bằng trong cuộc sống – giữa công việc và chơi, giữa nghỉ nghơi và hoạt động, đảm bảo sự cân bằng về cả thể chất, tâm trí và tinh thần.

BS P.Liên

(Theo Healthday)

Biểu hiện bệnh viêm khớp dạng thấp

Tôi 55 tuổi, thường xuyên bị đau khớp vai nhất là khi thời tiết thay đổi và đêm ngủ hai bàn tay đau và khó cử động. Xin hỏi có phải tôi bị viêm khớp dạng thấp?

Phan Thị Bích Hằng(bichhang@gmail.com)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp. Đa số trường hợp viêm khớp khởi phát từ từ và tăng dần, nhưng cũng có khi bắt đầu đột ngột với những triệu chứng cấp tính. Trước khi dấu hiệu ở khớp xuất hiện, bệnh nhân có thể thấy các biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, tê các đầu chi, đau nhức và khó cử động khớp khi ngủ dậy. Khoảng 2/3 trường hợp bắt đầu bằng viêm một khớp, thường là khớp nhỏ ở bàn tay, sau lan xuống khớp gối, bàn chân, cổ chân, ngón chân... đối xứng hai bên, khớp sưng đau, hạn chế vận động, ít nóng đỏ,... Các khớp viêm tiến triển nặng dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế. Ở giai đoạn đầu, khi khớp mới bị sưng nóng nếu được phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng cách, bệnh có thể diễn biến tốt. Nếu bệnh đã chuyển sang giai đoạn II, xuất hiện tổn thương ở sụn khớp và đầu xương, người bệnh có nguy cơ bị biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động. Ngoài ra, các biến chứng hay gặp ở bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp là: có thể bị loãng xương và dễ gãy do phải dùng các loại thuốc điều trị kháng viêm kéo dài. Hơn nữa, nguy cơ bị đau tim tăng 60% ở những người bị mắc chứng viêm khớp dạng thấp. Do vậy, khi có các biểu hiện viêm khớp dạng thấp như trên người bệnh nên đến cơ sở chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán và điều trị sớm, tránh biến chứng đáng tiếc.

BS. Vũ Ngọc Anh

Sơ cứu vết cắt và vết cào xước

Vết cắt và vết cào xước nhỏ không cần tới phòng cấp cứu. Nhưng việc xử trí thích hợp là cần thiết để phòng nhiễm khuẩn và các biến chứng khác. Sau đây là các chỉ dẫn giúp bạn chăm sóc những vết thương như vậy:

1. Rửa tay: rửa tay giúp tránh nhiễm trùng. Cũng cần đeo găng tay bảo vệ dùng một lần nếu có sẵn

2. Cầm máu: Những vết cắt hoặc vết cào xước nhỏ thường tự cầm. Nhưng nếu chúng không tự cầm được, hãy băng ép bằng một miếng vải hoặc miếng băng sạch. Giữ băng ép liên tục từ 20 đến 30 phút, và nâng cao vết thương nếu có thể. Không kiểm tra liên tục xem vết thương hết chảy máu chưa vì điều đó có thể làm bật cục máu đông vừa hình thành và gây ra chảy máu tiếp tục. Nếu máu vẫn tiếp tục chảy hoặc máu phun ra sau băng ép liên tục thì hãy đến gặp bác sĩ.

3. Rửa vết thương: Rửa vết thương bằng nước sạch. Không dùng xà phòng vì dễ kích ứng nên cần tránh xà phòng vào vết thương. Nếu vết thương vẫn còn bẩn và nhiều dị vật, dùng nhíp được rửa bằng cồn rồi gắp bỏ dị vật. Nếu dị vật vẫn còn sau đó, hãy đến gặp bác sĩ. Rửa kĩ càng vết thương nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng và uốn ván. Dùng khăn rửa mặt rửa sạch xung quanh vết thương bằng xà phòng. Không cần dùng tới nước oxy già hay cồn iod.

4. Dùng kháng sinh: Sau khi rửa sạch vết thương, bôi một lớp mỏng kem hoặc mỡ kháng sinh như Neosporin hoặc Polysporin để giữ ẩm bề mặt. Các sản phẩm này không chứa chất làm tái tạo nhanh nhưng có thể phòng nhiễm trùng và hỗ trợ quá trình tái tạo tự nhiên của cơ thể. Một số thành phần nhất định trong thuốc mỡ có thể gây dị ứng nhẹ. Nếu xuất hiện các ban dị ứng thì ngừng bôi thuốc mỡ.

5. Băng vết thương: Băng vết thương giúp giữ vết thương sạch và tránh các vi khuẩn có hại. Sau khi vết thương lành tương đối, khó nhiễm khuẩn thì bỏ băng, để vết thương tiếp xúc với không khí, việc này thúc đẩy quá trình sửa chữa và tái tạo vết thương.

6. Thay băng: Thay băng hàng ngày hoặc bất cứ khi nào thấy băng ẩm và bẩn. Nếu bạn bị dị ứng với chất dính được sử dụng trong hầu hết các loại băng thì bạn có thể sự dụng loại băng không có chất dính hoặc gạc vô khuẩn được giữ bởi băng giấy, gạc cuộn hoặc băng chun lỏng. Những sản phẩm y tế này có sẵn ở các hiệu thuốc.

7. Khâu vết thương sâu: Nếu vết thương sâu hơn 6 mm hoặc vết thương có bờ nham nhở, để lộ mô mỡ và cơ thì cần khâu lại. Loại băng dính dạng dải hoặc loại băng bướm có thể giữ được vết thương nhỏ, nhưng nếu bạn không đóng được vết thương dễ dàng thì đến gặp bác sĩ sớm nhất có thể. Sự đóng kín vết thương thích hợp trong vài giờ có thể giảm nguy cơ nhiễm trùng.

sơ cứu vết cắt và vết cào

Vết cắt nhỏ và cào xước - Hình A cho thấy vết xước (còn gọi là “mài mòn”). Vết xước không đi xuyên qua da, do vậy nó không cần phải khâu. Hình B cho thấy vết cắt đi xuyên qua da. Vết cắt này sâu, do vậy nó cần được khâu. Ảnh: uptodate

8. Theo dõi các dấu hiệu của nhiễm trùng: Nếu vết thương của bạn lâu lành hoặc bạn để ý thấy nó đỏ, đau tăng, chảy nhiều dịch, nóng hoặc sưng thì hãy đến gặp bác sĩ.

9. Tiêm phòng uốn ván: Bác sĩ khuyên nên tiêm phòng uốn ván 10 năm/lần. Nếu vết thương của bạn sâu và bẩn, mũi cuối cùng của bạn đã tiêm hơn 5 năm thì bạn nên đi tiêm thêm một mũi và sau khi bị thương thì tiêm càng sớm càng tốt.

Theo Nghiêm Huyền Trang, Hoàng Thanh Tùng (website Bác sĩ Nội trú)

Chăm sóc trẻ nôn trớChăm sóc trẻ nôn trớUống nhầm thứ tự thuốc tránh thai hàng ngàyUống nhầm thứ tự thuốc tránh thai hàng ngàyMũi nhọn điền kinh và bộ ba xe pháo mãMũi nhọn điền kinh và bộ ba xe pháo mã

(Theo Bác sĩ Nội trú)

7 triệu chứng phụ nữ không nên bỏ qua

Nốt ruồi

Nếu bạn thấy những nốt ruồi mới xuất hiện ở bất cứ đâu trên cơ thể, bạn cũng không nên xem nhẹ. Nếu nốt ruồi có kích thước, hình dạng hoặc bất cứ đặc điểm nào bất thường, bạn cần đi khám bác sĩ để loại bỏ khả năng ung thư da.

Khối u

Mặc dù có khối u ở ngực không có nghĩa là bạn bị ung thư nhưng tốt nhất bạn nên đi khám bác sĩ khi phát hiện thấy dấu hiệu này.

Đau bụng

Đau bụng ở phụ nữ có thể do hội chứng tiền kinh nguyệt. Nhưng nó cũng có thể là do viêm dạ dày hoặc thậm chí là táo bón. Nếu dấu hiệu này xuất hiện thường xuyên, bạn cần đi khám bác sĩ.

Tiểu tiện thường xuyên

Mót tiểu sau cứ mỗi 10-15 phút có thể do nhiễm trùng. Bác sĩ sẽ có thể cho bạn biết bạn có bị các vấn đề về đường tiết niệu hay không, vì vậy bạn nên đi khám khi gặp tình trạng này.

Ho

Nếu tình trạng ho của bạn kéo dài nhiều tuần hoặc nhiều tháng, đó không phải là tình trạng ho bình thường do tác nhân kích thích trong không khí hoặc thay đổi khí hậu. Đây có thể là một triệu chứng bệnh nghiêm trọng.

Hụt hơi

Nếu đi bộ vài bước hoặc leo vài bậc cầu thang đã khiến bạn thở hổn hển, bạn có thể cần đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.

Lo âu

Lo âu thường trực có thể hủy hoại cuộc sống của bạn. Các vấn đề chưa được giải quyết có thể gây căng thẳng và sau đó ảnh hưởng tới sức khỏe. Huyết áp cao, các vấn đề tiêu hóa và nhiều vấn đề sức khỏe khác là kết quả của căng thẳng và lo âu.

Mất ngủ

Một vấn đề sức khỏe nguy hại khác là mất ngủ. Nếu bạn không thể ngủ, hãy đi khám bác sĩ vì thiếu ngủ lâu dài có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của bạn.

BS Thu Vân

(Theo Boldsky)

Bệnh thận ở trẻ

Các rối loạn thận không phải là không phổ biến ở trẻ em. Không giống như tim, phổi và bệnh gan, các rối loạn thận không gây ra các triệu chứng cho tới khi gần 80% chức năng thận bị suy giảm và do vậy, bệnh thường được chẩn đoán muộn. Điều quan trọng là phụ huynh cần nhận biết những dấu hiệu sớm của bệnh này ở trẻ để phòng tránh. Dưới đây là những điều cần biết về bệnh thận ở trẻ nhỏ:

Các triệu chứng

Tiểu đau

Nước tiểu có màu đỏ/nâu

Dòng nước tiểu yếu

Đi tiểu ít hơn 4 lần/ngày

Đi tiểu nhiều hơn 12 lần/ngày

Sưng phù quanh mắt

Rối loạn tăng trưởng hoặc khuyết tật về xương

Hay cảm thấy khát

Bệnh thận ở trẻ

Các loại bệnh thận

Dị tật đường tiểu, xuất hiện từ khi mới sinh

Sỏi thận

Viêm cầu thận

Hội chứng thận hư

Nhiễm trùng đường tiểu

Suy thận cấp

Bệnh thận mạn tính

Chẩn đoán

Để chẩn đoán và đánh giá độ nặng của bệnh thận, các bác sĩ cần:

Kiểm tra nước tiểu để có thông tin về sự xuất hiện protein, hồng cầu, bạch cầu và tinh thể.

Cấy nước tiểu nên thực hiện trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng đường tiểu.

Ure và creatinine tăng khi thận không hoạt động thích hợp. Các xét nghiệm máu khác như electrolyte, hemoglobin, khí máu đôi khi được yêu cầu.

Siêu âm là một xét nghiệm hữu ích trong bệnh thận. Nó giúp cung cấp nhiều thông tin như kích thước thận, dị tật bẩm sinh (thận đơn/thận đa nang), thận ứ nước (sung thận), tắc đường niệu, sỏi thận, khối u ở thận.

Các xét nghiệm như chụp và sinh thiết thận hiếm khi được yêu cầu.

Điều trị

Điều trị bệnh thận phụ thuộc vào từng cá nhân.

Cần sử dụng thuốc kháng sinh trong 10-14 ngày. Prednisolon (steroid) được sử dụng trong hội chứng thận hư. Đôi khi một số dị tật đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh sửa.

Ở người lớn, khi thận suy, chạy thận được thực hiện và đôi khi ghép thận là lựa chọn du nhất. Việc điều trị cũng tương tự ở trẻ em. Chạy thận có 2 loại: thẩm phân phúc mạc (hay sử dụng ở trẻ em) và chạy thận nhân tạo. Do thận bị suy, những chất như u rê, creatinine, kali, phốt pho và nước bị tích lũy dư thừa trong cơ thể. Những chất này được loại bỏ bởi thẩm tách thận.

Trong một số trường hợp, bệnh nhân cần được ghép thận. Tuy nhiên, đây là thủ thuật rất phức tạp và tốn kém.

Phòng ngừa

Điều trị suy thận rất khó khăn, đau đớn và tốn kém. Do vậy phòng bệnh là rất quan trọng.

Nếu có các bất thường về thận kéo dài hơn 3 tháng, mức creatinine huyết cao hoặc thận bất thường trên siêu âm, trẻ cần được tới khám bác sĩ chuyên khoa.

BS Thu Vân

(Theo THS)

Bà bầu dành 10 phút tắm nắng mỗi ngày giúp giảm nguy cơ mắc hen ở trẻ

Các nhà khoa học của Đại học Kansax- Mỹ đã nghiên cứu mối liên quan giữa tỷ lệ trẻ mắc hen và lượng ánh nắng mặt trời ở vùng mà bà mẹ đang mang thai ở giai đoạn 3 tháng giữa của thai kỳ đang sống. Kết quả nghiên cứu đăng trong Tạp chí kinh tế sức khỏe Hoa Kỳ (American Journal of Health Economics) cho thấy nguy cơ mắc các bệnh hô hấp ở trẻ tăng khi có sự thiếu hụt vitamin D ở bà mẹ.

ba-bau-tam-nang-giam-nguy-co-mac-hen-o-tre

Khi bà bầu tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, lượng vitamin D tăng và trẻ sinh ra ít có những triệu chứng của hen. Theo tác giả nghiên cứu thì chỉ cần tắm nắng 10 phút mỗi ngày giúp làm giảm nguy cơ mắc hen ở trẻ sinh ra- Đây là tin vui cho các bà bầu!

Nhưng không nên nghĩ rằng ánh sáng mặt trời là vô hại, nhất là ở phụ nữ mang thai, đôi khi có những đốm nâu trên mặt và ngực. Cho nên hãy bảo vệ vùng da mặt và cổ với kem chống nắng, đội mũ và phơi nắng phần còn lại của cơ thể . Các bà bầu nên nhớ rằng chỉ 10 phút mỗi ngày là đủ để có lượng vitamin D cần thiết.

Tuy nhiên các bà bầu đừng lo lắng nhiều vì thường được bổ sung để tránh sự thiếu hụt này nhưng hãy nhớ rằng vitamin D tổng hợp ít hiệu quả hơn từ thiên nhiên.

Bs Ái Thủy

(theo Metronews.fr)

Xử lý các bất thường hay gặp ở vùng kín bé trai

Các dị dạng ở vùng bìu dễ nhận biết, tuy nhiên, đó là bệnh gì? Cách điều trị như thế nào? Có bắt buộc phải mổ không? Và quan trọng là khi nào thì phải mổ? Các phụ huynh có khá nhiều băn khoăn trước những bất thường ở vùng này.

Thoát vị bẹn - Nang thừng tinh - Tràn dịch màng tinh hoàn

Đây là các bất thường hay gặp nhất ở trẻ em có cùng biểu hiện là “bìu to” và hai bên không cân đối. Cả ba bệnh lý trên là biểu hiện khác nhau của cùng một tình trạng “còn ống phúc tinh mạc” do ống từ ổ bụng thông với bìu không được đóng lại hoàn toàn trong thời kỳ bào thai.

Biểu hiện của bệnh

Thoát vị bẹn: Bìu to lên, mất cân đối mỗi khi trẻ khóc hoặc chạy nhảy, thường là không đau, sau đó lại có thể tự xẹp đi khi nằm. Khi khám sờ thấy lỗ thoát vị rộng, có thể thấy quai ruột tụt xuống bìu.

Cần lưu ý rằng, thoát vị cũng gặp ở trẻ gái với biểu hiện là vùng môi lớn phình to lên, mất cân đối so với bên kia, thường xuất hiện khi gắng sức như khi trẻ khóc, chạy nhảy... sau đó tự xẹp đi khi nằm. Thường gặp là tình trạng buồng trứng và vòi trứng thoát vị xuống môi lớn. Nếu nghẹt, trẻ sẽ rất đau, cần mổ cấp cứu để tránh hoại tử.

Tràn dịch màng tinh hoàn: Bìu to thường xuyên, liên tục, mất cân đối ngay từ sau đẻ. Không đau. Sờ có dấu hiệu kẹp màng tinh hoàn. Siêu âm giúp xác định chẩn đoán.

Nang thừng tinh: Bìu to thường xuyên, liên tục, mất cân đối ngay từ sau đẻ, không đau, có thể sờ thấy “ba hòn”. Siêu âm giúp xác định chẩn đoán.Ẩn tinh hoàn là dị tật sinh dục bẩm sinh khá phổ biến ở trẻ em.

Ẩn tinh hoàn là dị tật sinh dục bẩm sinh khá phổ biến ở trẻ em.

Chỉ định điều trị

Thoát vị bẹn: Bắt buộc phải mổ để cắt và khâu lại bao thoát vị. Cần lên kế hoạch mổ sớm nhất có thể để tránh biến chứng nghẹt gây hoại tử ruột hoặc các tạng thoát vị.

Tràn dịch màng tinh hoàn và nang thừng tinh: Không bao giờ mổ trước 2 tuổi vì đây là khoảng thời gian mà ống phúc tinh mạc còn có khả năng tiếp tục kép lại. Nếu ống này đóng kín thì bệnh sẽ khỏi tự nhiên với tỷ lệ khoảng 65% các trường hợp. Sau 2 tuổi mà bìu vẫn to thì hoàn toàn mất cơ hội tự khỏi, khi đó cần mổ để khâu lại ống phúc tinh mạc và hút hết dịch trong nang hoặc trong màng tinh.

Tinh hoàn chưa xuống bìu

Bệnh biểu hiện với “bìu xẹp” lệch nếu ẩn tinh hoàn một bên hoặc xẹp hoàn toàn nếu ẩn tinh hoàn cả hai bên. Không sờ thấy tinh hoàn trong bìu. Cần khám khi trẻ thực sự thư giãn, các cơ thả lỏng. Dùng lòng bàn tay vuốt từ vùng mu xuống bìu có thể cảm thấy tinh hoàn nổi gờ lên. Nếu có lúc tinh hoàn sờ thấy ở bìu, có lúc lại di động lên vùng bẹn, trường hợp này gọi là “tinh hoàn lò xo”.

Ẩn tinh hoàn là bất thường bẩm sinh phổ biến ở hệ sinh dục của trẻ em. Trong vòng khoảng 6 tháng sau sinh, tinh hoàn vẫn có thể tiếp tục quá trình di chuyển và xuống đến đúng vị trí trong bìu. Tuy nhiên, khả năng một tinh hoàn tự di chuyển xuống bìu vào vị trí bình thường không nhiều. Nếu sau 6 tháng tuổi mà tinh hoàn chưa xuống bìu, trẻ cần phải được điều trị để tránh ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, dễ xảy ra biến chứng xoắn tinh hoàn, thậm chí ung thư tinh hoàn.

Xoắn tinh hoàn là một biến chứng thường xảy ra vào lứa tuổi dậy thì, ở những trẻ bị ẩn tinh hoàn chưa được mổ. Bệnh biểu hiện với đau dữ dội, đột ngột ở bìu. Vùng bìu bẹn sưng to, sờ rất đau, có thể chuyển màu tím đen. Đây là một cấp cứu tối khẩn cấp, nếu mổ muộn sau 6 giờ tính từ cơn đau đầu tiên thì khả năng phải cắt tinh hoàn bị hoại tử do xoắn là rất cao.

Phương pháp điều trị

Điều trị ngoại khoa: Với tất cả những trẻ đã quá 6 tháng tuổi mà không sờ thấy tinh hoàn ở bìu đều cần phải được khám và điều trị. Mổ hạ tinh hoàn là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất.

Điều trị nội khoa: Thuốc nội tiết có tác dụng giúp tinh hoàn di chuyển xuống bìu. Tuy nhiên, thuốc nội tiết có những tác dụng không mong muốn khó kiểm soát. Việc sử dụng thuốc nội tiết trong điều trị ẩn tinh hoàn phải được bác sĩ chuyên khoa xem xét theo từng trường hợp cụ thể và theo dõi sát.

BS. Lê Sĩ Trung

Những liệu pháp trị đau họng tại nhà

Khi chúng ta bị đau họng, chúng ta có thể có cảm giác ngứa ở họng, khó nuốt, đau hoặc sưng các tuyến ở vùng cổ hoặc hàm. Đôi khi kèm theo cá...