Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Trẻ bị vẹo cổ có mổ được không?

Ngày 1-3, lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa cho biết, Khoa Ngoại chấn thương, chỉnh hình và Bỏng của bệnh viện vừa phối hợp với đoàn bác sĩ tuyến trên tầm soát số trẻ em bị dị tật ở địa phương và vùng lân cận. Đồng thời tiến hành mổ thành công cho 5 ca. Trong đó có 2 ca vẹo cổ do co rút cơ ức đòn chủm.

Có gần 30 em được cha mẹ đưa đến khám đều có dị tật, bệnh lý và phần nhiều do bẩm sinh. Các bệnh lý thường gặp gồm vẹo cổ do co rút cơ ức đòn chủm, trật khớp háng, bại não, ngực lõm…

Trẻ bị vẹo cổ có mổ được không?

mổ vẹo cổ

Bác sĩ chuyên khoa II Phan Văn Tiếp khám cho bé Diệp Khả Hân, sinh 2013 và sau mổ

Trong số các bé được mổ lần này là bé Diệp Khả Hân, sinh 2013, ở Nha Trang. Mẹ của bé cho biết, càng lớn lên thấy bé càng bị nghiêng cổ sang một bên, đi khám mới biết bé bị chứng vẹo cổ. Bác sĩ chuyên khoa II, Phan Văn Tiếp (Chuyên gia về Chấn thương – Chỉnh hình nhi ở TP.HCM), người trực tiếp khám và trưởng kíp mổ cho bé chia sẻ: Những trường hợp trẻ bị chứng vẹo cổ kể trên, phụ huynh không nên lo lắng, chúng tôi đã mổ rất nhiều những ca như thế và đều thành công. Ca mổ chỉ diễn ra chưa đầy 30 phút, tuy nhiên phụ huynh phải hết sức lưu ý, khi bé có ý thức và kiểm soát được bản thân thì nên thực hiện mổ. Đồng thời người nhà phải kiên trì tình nguyện làm “Kỹ thuật viên” lâu dài giúp cho bé. Theo đó, phải thực hiện thật chuẩn các vật dụng y tế, kiên trì tập, phục hồi chức năng cho bé nhìn thẳng, không nghiêng cổ…ít nhất cũng phải từ 3 đến 5 năm. Thậm chí cho đến khi nào thành công mới thôi.

Cuối cùng, các bác sĩ khuyên các gia đình khi thấy trẻ bị dị tật, cần đưa đến cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và tư vấn kịp thời. Bởi vì có rất nhiều dạng dị tật khác nhau, có trường hợp cần mổ sớm, có trường hợp phải đợi để trẻ thực sự biết kiểm soát hành vì. Ngoài ra còn cần thêm các chỉ số khác như cân nặng, thể trạng…

Công Thi

82 ca mắc ho gà: Chỉ có vắc xin là cách phòng bệnh tốt nhất

Ho gà có tính lây truyền cao

Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, do thời tiết se lạnh, độ ẩm cao nên mùa xuân là mùa bùng phát mạnh các bệnh hô hấp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ, trong đó có bệnh ho gà.

Đây là căn bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp, phổ biến ở trẻ nhỏ. Bệnh có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp qua đường hô hấp có các dịch tiết từ niêm mạc mũi họng bệnh nhân khi ho, hắt hơi. Bệnh có tính lây truyền rất cao, nếu chưa có miễn dịch sẽ dễ mắc bệnh, diễn biến nặng có thể dẫn đến tử vong.

bệnh ho gàTrẻ mắc ho gà điều trị tại BV Nhi Trung ương.

Dù là bệnh có vắc xin phòng nhưng hiện nay ho gà chưa được loại trừ nên hàng năm vẫn còn gặp những ca mắc bệnh rải rác tại một số địa phương trên cả nước. Từ đầu năm đến nay, nước ta đã ghi nhận 82 trường hợp mắc ho gà tại các tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Thọ, Hà Nam… trong đó Hà Nội có ca mắc cao nhất với 21 trường hợp, có một ca tử vong. Bốn trường hợp tử vong khác tại Cao Bằng, Nam Định (2 ca), Nghệ An.

Theo ghi nhận, dù số mắc tăng cao hơn các tháng trong năm do khí hậu lạnh, ẩm kéo dài, nhưng không cao hơn so với cùng kỳ các năm trước. Vì vậy đây không phải là diễn biến bất thường. Trẻ mắc ho gà phần lớn là trẻ dưới 2 tháng tuổi, chưa có khả năng miễn dịch.

Riêng trong năm 2017, 80% số ca mắc là trẻ dưới 3 tháng tuổi và phần lớn rơi vào nhóm trẻ dưới 2 tháng tuổi chưa tiêm chủng phòng ngừa ho gà. Các trẻ mắc bệnh cũng không nhận được miễn dịch từ mẹ truyền cho con do mẹ chưa tiêm phòng dịch trước đó.

Xem thêm: SAU THỦY ĐẬU, XUẤT HIỆN NHIỀU TRẺ MẮC HO GÀ, BIẾN CHỨNG VIÊM PHỔI

Sẽ hướng dẫn việc tiêm phòng dịch ho gà cho phụ nữ mang thai

Để phòng bệnh trẻ em, theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi là trẻ phải được tiêm vắc xin đúng lịch, đủ liều: Cần tiêm mũi đầu tiên ngay khi trẻ được 2 tháng tuổi, mũi 2 lúc 3 tháng tuổi, mũi 3 lúc 4 tháng tuổi và tiêm nhắc lại lúc trẻ 18 tháng. Mũi nhắc lại lần 4 khi trẻ được 18 tháng rất quan trọng trong việc kéo dài miễn dịch sau này để truyền cho con.

Đối với phụ nữ mang thai, vắc xin ngừa ho gà dành cho người lớn được khuyến cáo tiêm cho lứa tuổi từ 6 - 64 tuổi và phụ nữ mang thai 20 tuần. Tuy nhiên, tốt nhất là tiêm ngừa trước khi mang thai. Trường hợp phụ nữ mang thai cần thực hiện việc tiêm phòng theo hướng dẫn của cơ quan y tế, đặc biệt đối với phụ nữ mang thai sống tại vùng dịch.

vắc xin ho gà

Tiêm vắc xin là cách tốt nhất phòng ngừa ho gà cho trẻ.

Hiện, Bộ Y tế đang giao cho Cục Quản lý Dược, Chương trình Tiêm chủng mở rộng xem xét để có hướng dẫn cụ thể về việc tiêm phòng dịch ho gà cho phụ nữ mang thai.

Để phòng chống bệnh ho gà, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân thực hiện đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà (vắc xin phối hợp phòng bệnh Bạch hầu, ho gà, uốn ván – DTP hoặc vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, virut viêm gan b và Haemophilus influenzae type b - Quinvaxem) đủ liều, đúng lịch.

Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng cho trẻ hàng ngày.

Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh ho gà trẻ phải nghỉ học, cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

Lịch tiêm chủng vắc xin DTP hoặc Quinvaxem:• Mũi thứ 1: tiêm khi trẻ 2 tháng tuổi• Mũi thứ 2: Sau mũi thứ nhất 1 tháng• Mũi thứ 3: Sau mũi thứ hai 1 tháng• Mũi thứ 4: khi trẻ 18 tháng tuổi.

D.Hải

Biện pháp giảm căng thẳng tâm lý

Căng thẳng tâm lý là tình trạng lo lắng quá mức, người bệnh không thể tự kiểm soát được tình trạng này. Kèm theo bệnh nhân có nhiều triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như đánh trống ngực, thở nhanh và nông, ra nhiều mồ hôi, đầy bụng, khô miệng, khó nuốt, đái dắt...

Có nhiều bệnh gây căng thẳng tâm lý được gọi chung là nhóm bệnh rối loạn lo âu.

Cơn hoảng sợ kịch phát

Rối loạn hoảng sợ được đặc trưng bởi các cơn hoảng sợ có tính chất kịch phát. Cơn hoảng sợ xuất hiện đột ngột, sợ hãi vô cùng mạnh mẽ. Bệnh nhân có cảm tưởng sắp chết, cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim, bị phát điên hoặc mất kiểm soát bản thân. Cơn hoảng sợ kịch phát thường hay tái phát, mỗi cơn kéo dài 5-20 phút, nhưng đôi khi có thể kéo dài tới 1 giờ.

Biện pháp giảm căng thẳng tâm lýTập thở - một biện pháp làm giảm căng thẳng tâm lý.

Khi xuất hiện cơn hoảng sợ cần khuyên bệnh nhân làm các bước sau đây:

Ngồi tại chỗ cho đến khi cơn hoảng sợ qua đi.

Tập trung vào việc chế ngự lo âu song không cần quan tâm đến các triệu chứng của cơ thể.

Nên tiến hành thở chậm, thư giãn, không thở quá sâu hay quá nhanh giúp tăng thông khí. Việc kiểm soát nhịp thở sẽ làm giảm các triệu chứng của cơ thể khi cơn hoảng sợ xuất hiện.

Người bệnh nên tự nhủ rằng đó chỉ là một cơn hoảng sợ, các cảm giác và ý nghĩ sợ hãi sẽ mau chóng qua đi. Chú ý vào thời gian đang trôi qua trên đồng hồ. Cảm giác của bệnh nhân có thể là lâu, nhưng thực ra chỉ kéo dài trong vài phút.

Xác định những nỗi lo đó bị khuếch đại và xuất hiện trong cơn hoảng sợ (ví dụ bệnh nhân cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim).

Cần trao đổi với bệnh nhân cách đương đầu với nỗi lo trong cơn hoảng sợ đó (ví dụ bệnh nhân tự nhủ tôi không bị nhồi máu cơ tim, đó chỉ là một cơn hoảng sợ và sẽ qua đi trong vài phút).

Các nhóm tự giúp đỡ lẫn nhau có thể giúp bệnh nhân chế ngự được cơn hoảng sợ và vượt qua được cơn sợ hãi của mình.

Lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa được đặc trưng bởi các lo âu mạn tính chiếm ưu thế và không có rối loạn hoảng sợ. Điểm nhấn mạnh của rối loạn này là tồn tại lo âu kéo dài ít nhất 6 tháng. Các triệu chứng lo âu bao gồm hai nhóm triệu chứng: Lo lắng quá mức. Các triệu chứng cơ thể như tăng trương lực cơ, mất khả năng thư giãn, mệt mỏi...

Trong trường hợp bệnh nhân bị lo âu lan tỏa cần khuyến khích bệnh nhân tập thư giãn hàng ngày để giảm các triệu chứng cơ thể do lo âu, căng thẳng gây ra. Khuyến khích bệnh nhân tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, tập thể thao và tham gia các hoạt động đã từng có ý nghĩa trợ giúp trong quá khứ. Xác định và đối phó với nỗi lo buồn đã được khuếch đại có thể làm giảm được các triệu chứng lo âu như: Xác định các mối lo âu đã bị khuếch đại hoặc có ý nghĩa bi quan (ví dụ con gái đi học về muộn 5 phút bệnh nhân đã lo sợ rằng cháu bị tai nạn). Thảo luận cách đối đầu với mối lo sợ đã bị cường điệu khi chúng xuất hiện (ví dụ khi bệnh nhân bắt đầu lo sợ cho con gái thì bệnh nhân có thể tự nhủ rằng “mình đang bắt đầu bị lo âu, con gái mình chỉ về muộn vài phút và sẽ về ngay thôi, mình sẽ không cần gọi điện đến trường kiểm tra trừ khi con mình về muộn hàng giờ”).

Các phương pháp giải quyết vấn đề có cấu trúc có thể giúp bệnh nhân giải quyết các vấn đề cuộc sống hiện tại hoặc giúp chế ngự stress, các yếu tố đã góp phần gây các triệu chứng lo âu:

Xác định các sự kiện gây ra hiện tượng lo âu quá mức (ví dụ một người phụ nữ trẻ có biểu hiện lo âu, căng thẳng, buồn nôn, mất ngủ. Các triệu chứng này bắt đầu sau khi con trai bị chẩn đoán là hen phế quản. Sự lo âu của bệnh nhân nặng lên khi con trai bị hen).

Cần trao đổi với bệnh nhân sẽ làm gì để chế ngự tình huống này. Xác định các việc đó và củng cố, phát huy tác dụng của chúng. Xác định một số hoạt động mà bệnh nhân có thể làm trong vài tuần tới như: gặp các y tá, bác sĩ học cách chăm sóc bệnh nhân bị hen phế quản. Thảo luận với cha mẹ của những đứa trẻ khác cũng bị hen phế quản. Viết ra kế hoạch để chế ngự cơn hen phế quản.

Tập thể dục điều độ cũng có hiệu quả làm giảm lo âu.

Ám ảnh sợ xã hội

Ám ảnh sợ xã hội là sợ các hoạt động mà bệnh nhân phải đối mặt với người khác. Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội thường tránh xa các tình huống mà trong đó đòi hỏi họ phải va chạm với những người khác hoặc phải đối diện với người khác.

Các ám ảnh sợ xã hội thường là: nói, ăn, viết ở nơi công cộng, sử dụng nhà vệ sinh công cộng, sợ những cuộc phỏng vấn. Hơn nữa, cái sợ phổ biến nhất ở bệnh nhân là sợ người khác tẩy chay hoặc chế nhạo.

Mỗi bệnh nhân có thể có một, một số hoặc nhiều tình huống sợ xã hội. Những tình huống sợ này được chia thành 1 trong 3 loại: sợ nơi công cộng, sợ một số tình huống xã hội nhất định và sợ toàn bộ các tình huống xã hội.

Trong trường hợp này cần khuyến khích bệnh nhân thực hành phương pháp thở để kiểm soát các triệu chứng cơ thể của sợ. Yêu cầu bệnh nhân làm một bảng liệt kê tất cả các tình huống xã hội đã làm cho họ sợ hãi và né tránh mặc dù người khác không như vậy. Thảo luận cách đấu tranh với các nỗi sợ hãi đã được cường điệu này (ví dụ bệnh nhân tự nhủ “tôi đang có cảm giác hơi sợ một chút vì phải sử dụng nhà vệ sinh công cộng, cảm giác này sẽ qua đi sau vài phút”).

Đặt ra kế hoạch và các bước tiến hành để giúp bệnh nhân có thể đương đầu và làm quen với các tình huống xã hội gây sợ: định ra bước đi đầu tiên với các tình huống xã hội gây sợ (ví dụ tập gặp mặt những người không quen biết cùng một thành viên gia đình). Bước đi ban đầu này cần được thực hành một giờ mỗi ngày cho đến khi bệnh nhân không còn sợ hãi nữa.

Nếu tình trạng gây sợ vẫn còn, bệnh nhân cần tiến hành thở một cách chậm rãi và thư giãn, tự nhủ rằng sợ hãi sẽ qua đi trong vòng 30 phút. Bệnh nhân không nên rời khỏi tình huống gây sợ cho đến khi sự sợ hãi lắng dịu đi.

Tiến thêm một bước khó khăn hơn một chút và lặp lại điều đó (ví dụ ăn trong nhà ăn công cộng, nói chuyện trước đám đông người).

Không uống rượu và thuốc chống lo âu 4 giờ trước khi thực hiện bước này.

Xác định một người bạn hay thành viên trong gia đình giúp bệnh nhân vượt qua sợ hãi.

Bệnh nhân tránh lạm dụng rượu và thuốc bình thần.

PGS.TS. Bùi Quang Huy

5 nguyên nhân phổ biến gây đau đầu và cách khắc phục

Dưới đây là 5 nguyên nhân phổ biến gây đau dầu và cách khắc phục.

Táo bón hoặc hội chứng ruột kích thích

Nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa đau đầu, đau nửa đầu với táo bón hoặc hội chứng ruột kích thích. Nghiên cứu cũng cho thấy điều trị táo bón có thể cải thiện chứng đau đầu ở nhiều bệnh nhân.

Lạm dụng thuốc

Đau đầu do lạm dụng thuốc là một trong những loại đau đầu phổ biến nhất và các nhà nghiên cứu ước tính nó chiếm tỷ lệ 1-2%. Các bác sĩ thấy rằng sử dụng bất hợp lý các thuốc điều trị triệu chứng đau đầu hoặc thuốc giảm đau có thể dẫn tới đau đầu do thuốc. Nếu bạn đang dùng thuốc trị đau đầu hoặc đau nửa đầu và các triệu chứng không bớt, hãy hỏi ý kiến bác sĩ.

Thay đổi thời tiết

Theo các nhà nghiên cứu, đau nửa đầu gây ra bởi thời tiết lạnh hoặc nóng chiếm tỷ lệ 20-30% số trường hợp. Nguyên nhân là vì não giải phóng ra serotonin, một hormone gây stress, khi thời tiết thay đổi đột ngột có thể dẫn tới đau đầu.

Mất nước

Nếu bạn bị đau đầu liên tục kèm theo các triệu chứng khác như buồn nôn và đau nhức cơ thể, rất có khả năng là bạn đang bị mất nước. Hãy uống đủ nước trong suốt cả ngày để thoát khỏi tình trạng đau đầu liên tục.

Uống quá nhiều cà phê

Theo các bác sĩ, phụ thuộc caffein là một nguyên nhân phổ biến nữa gây đau đầu thường xuyên. Trên thực tế, chỉ cần 100mg caffeine cũng có thể gây đau đầu. Hãy giảm lượng caffeine nếu bạn muốn giảm đau đầu.

BS Cẩm Tú

(Theo THS/ Univadis)

Viêm khớp tuổi thiếu niên

Nguyên nhân hiện nay còn chưa xác định rõ. Tuy nhiên nhiều người cho rằng bệnh có tính chất tự miễn với tình trạng nhiễm khuẩn làm khởi động một loạt các quá trình trong hệ thống miễn dịch. Bệnh thường khởi phát sau nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella...

Vệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên ít gặp hơn viêm khớp dạng thấp ở người lớn. Ở Việt Nam chưa có thống kê về bệnh này, nhưng một số thống kê ở Mỹ và châu u cho thấy, lứa tuổi mắc bệnh khoảng từ 2-16 tuổi, với tỷ lệ 1/1000 trẻ mỗi năm, nữ gặp nhiều hơn nam. Phần lớn trong số đó thường có diễn biến nhẹ, chỉ khoảng 1/10.000 trường hợp bệnh tiến triển nặng dần.

Triệu chứng

Tùy vào thể bệnh, người bệnh có các triệu chứng khác nhau.

Thể viêm một hay vài khớp: trẻ bị viêm dưới bốn khớp, thường gặp ở bé gái từ 2-5 tuổi (3 tuổi là nhiều nhất). Khi mắc bệnh thể này, trẻ thường bị tổn thương, đau các khớp xương ở gối, cổ chân, khuỷu tay và các khớp nhỏ như khớp bàn tay, bàn chân. Các khớp viêm không đối xứng.

Khuyến khích trẻ tham gia hoạt động ngoài trời.

Ở thể hệ thống hay còn gọi là thể Still trẻ em: trẻ có triệu chứng sốt cao, nổi ban màu hồng. Khớp viêm bị đau, nhất là khớp gối, sau đó đến các khớp khác như khớp cổ tay, cổ chân, bàn ngón tay… Bên cạnh tổn thương ở khớp, người bệnh có tổn thương ở vị trí khác như viêm ngoài màng tim, viêm thanh mạc, gan lách hạch to…

Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp âm tính: tỉ lệ mắc bệnh ở bé trai nhiều hơn bé gái. Thể này phổ biến ở trẻ trên 10 tuổi. Người bệnh bị viêm từ 5 khớp trở lên trong 6 tháng đầu. Các khớp viêm ở vị trí gối, cổ tay, cổ chân…

Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp dương tính: bệnh hay gặp ở bé gái trên 10 tuổi, các biểu hiện viêm khớp giống như bệnh viêm khớp dạng thấp ở người lớn. Viêm các khớp nhỏ và nhỡ có tính chất đối xứng, người bệnh thường cứng khớp vào buổi sáng sau khi thức dậy. Thỉnh thoảng có biểu hiện ngoài khớp như hạt dưới da, viêm mạch. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh dễ để lại hậu quả và biến chứng nặng nề, ảnh hưởng đến chức năng vận động của trẻ.

Viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận: bệnh thường gặp ở trẻ từ 12 – 16 tuổi, tỷ lệ bé trai mắc bệnh cao hơn bé gái. Các khớp viêm như khớp háng, gối, cổ chân hay các khớp nhỏ, khớp không đối xứng. Thể này tiến triển nhanh, dẫn đến dính khớp gây tàn phế.

Viêm khớp vảy nến: thường xuất hiện ở lứa tuổi 7-11 với các biểu hiện tổn thương ở khớp. Viêm ở cả khớp lớn và khớp nhỏ, các khớp viêm không đối xứng, tổn thương nặng nhất ở khớp gối. Triệu chứng ngón tay, chân hình “khúc dồi” và những tổn thương lõm hoặc bong ở móng tay, chân là những triệu chứng quan trọng để chẩn đoán bệnh.

Khi có triệu chứng viêm khớp thiếu niên, phụ huynh nên đưa trẻ đến bệnh viện có phòng khám chuyên khoa cơ xương khớp để thăm khám và điều trị kịp thời. Tùy tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc, dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.

Điều trị bệnh ra sao?

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những trẻ khác. Tuy vậy khi bệnh tiến triển phụ huynh nên cho con nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.

Do tính chất của bệnh viêm khớp thiếu niên tự khởi phát ở tuổi thiếu niên, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc học tập, sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình và hỗ trợ của nhà trường…

TS. Nguyên Khôi

Vì sao bị loạn khuẩn đường ruột?

Con em 21 tháng tuổi, bé ăn rất tốt nhưng hay đại tiện phân sống, phân nhiều nước, có lúc nhầy máu. Em đã rất cẩn thận trong chế độ ăn của bé và dùng cả kháng sinh nữa nhưng không khỏi. Xin hỏi bác sĩ vì sao bé bị thế, có phải bé bị loạn khuẩn đường ruột?

Nguyễn Thị Phương Anh (phuonganh@gmail.com)

Nhiều bà mẹ khi thấy con tiêu chảy lại cho ăn kiêng quá mức, không cho ăn dầu mỡ nên bé không hấp thụ được các vitamin và không bài tiết dịch tiêu hóa để hấp thu chất dinh dưỡng từ thức ăn, do đó phân thường bị sống. Hơn nữa nếu cho bé ăn dặm (ăn bột) sớm trước 6 tháng tuổi là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng đi phân sống, vì tinh bột được tiêu hóa nhờ men amylaza và ptyalin ở nước bọt mà nước bọt phải tới 6 tháng tuổi trẻ mới tiết ra nhiều. Trường hợp bé nhà bạn nếu hay phải dùng kháng sinh, có thể bị loạn khuẩn đường ruột nhưng khi ngừng kháng sinh sẽ hết tiêu chảy. Một nguyên nhân hay gặp trẻ đi phân sống tanh là do nhiễm giun đường ruột (giun đũa, giun kim...). Bệnh nhiễm giun rất hay gặp ở trẻ em vùng nông thôn. Nếu nhiễm giun bé có thể bị suy dinh dưỡng, thiếu máu thiếu sắt do rối loạn tiêu hóa và do giun ăn mất chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, nếu bé tiêu chảy kéo dài thì có thể dùng thêm men tiêu hóa. Ngoài ra, bé 21 tháng tuổi, hằng ngày bạn có thể cho bé ăn thêm sữa chua sẽ kích thích bé thèm ăn và dễ tiêu hóa. Các bữa ăn chính vẫn cần đảm bảo đủ 4 nhóm thức ăn: tinh bột (gạo), đạm (thịt, cá, trứng, sữa), dầu mỡ và vitamin (từ rau củ quả), trong đó lưu ý thịt gà nạc băm nhỏ và cà rốt cho vào bột cháo rất tốt cho trẻ tiêu chảy. Nếu tình trạng tiêu chảy phân sống không cải thiện bạn nên đưa bé đi khám chuyên khoa tiêu hóa nhi. Có thể cần xét nghiệm phân để tìm trứng giun vì nhiễm giun rất thường gặp ở trẻ vùng nông thôn, nhất là những vùng trồng màu.

BS. Kim Anh

Uống quá nhiều soda làm tăng nguy cơ bệnh gan nhiễm mỡ ở trẻ

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, trẻ em và vị thành niên tiêu thụ nhiều fructose dễ bị NASH, một thể của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD).

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, lượng fructose trong chế độ ăn dẫn tới tăng nồng độ acid uric, nồng độ cao fructose và acid uric được xác định ở những người bị NAFLD.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học tại Ý đã tìm hiểu xem liệu fructose và acid uric có liên quan độc lập với NASH hay không. Họ đã xem xét 271 trẻ em và vị thành niên béo phì bị NAFLD, tất cả đều được sinh thiết gan.

Những người tham gia hoàn thành bảng câu hỏi về tần suất sử dụng thực phẩm, cho biết chính xác những thực phẩm họ dùng, tần suất dùng và khẩu phần ăn. Sử dụng dữ liệu này, nhóm nghiên cứu tính toán lượng fructose trong chế độ ăn của những người ham gia. Kết quả cho thấy, soda và các loại đồ uống ngọt khác là nguồn fructose chính; gần 90% số trẻ cho biết họ uống soda và các loại đồ uống ngọt khác ít nhất 1 lần/tuần. Gần 95% cho biết thường xuyên ăn nhẹ buổi sáng và buổi chiều với các thực phẩm như pizza, bánh quy, sữa chua và snack mặn.

Từ kết quả sinh thiết gan, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, 37,6% số trẻ em và vị thành niên bị NASH. Trong đó, 47% có nồng độ acid uric cao, so với 29,7% ở những trẻ không bị NASH.

Điều quan trọng là nhóm nghiên cứu phát hiện thấy, lượng fructose có liên quan độc lập với nồng độ cao acid uric, và trẻ bị NASH tiêu thụ fructose thường xuyên hơn so với trẻ không bị NASH.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Journal of Hematology.

BS P.Liên

(Theo Medicalnewstoday)

Những liệu pháp trị đau họng tại nhà

Khi chúng ta bị đau họng, chúng ta có thể có cảm giác ngứa ở họng, khó nuốt, đau hoặc sưng các tuyến ở vùng cổ hoặc hàm. Đôi khi kèm theo cá...